Guồng quay thời gian (Chương 1.2)

Tập I: Chạy ngược quy luật.


Phần I: Bốn vương quốc.

Tác giả: NTD (Nhạt)

Chương 1: Capoeira. (2)




2. Tờ mờ sáng, sau một đêm ròng quốc bộ không ngừng nghỉ, hai người mới đi được đến tâm của khu rừng. Rẽ vào lối quặt hẹp, một con đường lớn trải dài trước mắt, bốn bề cây cao, ngọn cây uốn cong thành mái vòm, che kín khoảng trời phía trên mái đầu. Đi hết con đường, họ sững sờ dừng lại phía dưới vòm cây cuối cùng, nhìn khung cảnh hiện ra trước mắt. Từ phía xa xa trông vào cánh rừng xavan trùng điệp, chỉ thấy bạt ngàn một màu xanh ngắt. Nghiễm nhiên không ngờ rằng, khoảnh khắc đứng dưới bóng râm u tối, nhìn ra ngoài kia, mới tỏ nơi đây che khuất một vùng đất bao la biết nhường nào. Vùng đất nằm gọn trong kết giới màu lục hình nửa bầu dục, nhìn thoáng như màn sương phủ mờ giăng kín tầm nhìn, chính rằn lanh mỏng này đã ngăn cách nơi ấy với bầu trời bên ngoài.

Nằm ngay vị trí từ đỉnh kết giới chiếu thẳng xuống, là toà tháp trụ vĩ đại biệt lập, bậc thang dài chạy dọc trên tường bao tòa tháp, xoáy trôn ốc và thu nhỏ tới tận đỉnh tháp, xung quanh là những tòa thành con vuông vắn, nằm san sát nhau. Tuy nói là thành con, nhưng đấy chỉ là so với tháp trụ, còn trên thực tế, nó rộng đến đủ chứa dân số của cả một thành phố.

Paul cùng Dung ghé vào trước cổng kết giới, có hai người lính đứng canh phía trước, cả thân mặc áo vải thô màu trắng dày cộm, trên đầu lại phủ khăn che kín mặt chừa lại hai đôi mắt, tay cầm ngọn giáo, cầu cán giáo được khắc hình giống như chiếc gương, hay còn gọi là kí hiệu để ám chỉ nữ giới. Nhưng ở nơi đây, ai cũng biết, đó là chữ thập Ankh - được coi như là chiếc chìa khóa biểu tượng của sự vĩnh cửu, có khả năng mang lại sức mạnh cho người cầm nó, họ có thể ban hoặc cũng có thể tước đoạt mạng sống của con người.

Hai người gác cổng không mảy may động đậy khi cô và Paul tới gần họ, giống như uy nghiêm, cũng giống như có sự ngạo nghễ. Đi đến bên cạnh, họ bỗng dưng đưa tay ra chặn lại.

"Từ đâu đến? Muốn đi đâu?" Họ hỏi.

Mi lay động, đáy mắt Paul thoáng qua một sự khó chịu nhưng gã đành xoa gáy, cười nịnh nọt:

"Thưa ngài, tôi và con gái xa xứ tới đây muốn giao một món vật quan trọng cho một vị thương nhân."

Hai người gác cổng đăm đăm nhìn Paul, ánh mắt có vẻ soi mói, không tin tưởng lắm những điều mà gã nói, tất nhiên, điều đó thực sự rất khó tin. Nhưng không hiểu sao qua một hồi, họ lại mở một lỗ hổng, chấp nhận cho cả hai vào trong kết giới và không dò xét thêm bất cứ điều gì. Đi cách bọn hắn một quãng khá xa, Dung mới nhíu mày, dè dặt nhìn xung quanh rồi ngước cổ lên hỏi người đi bên cạnh:

"Này sư cọ, sao họ dễ dàng cho chúng ta vào vậy?"

đảo con ngươi, liếc xéo về phía cô rồi lại tiếp tục dời ánh mắt hướng lên đằng trước.

"Ừ, bất cứ lời nói dối nào cũng có thể qua cửa. Tức là họ chấp nhận mọi sự dối trá, nhưng mà thời gian duy trì lời dối trá đó lại là do họ quyết định."

"Tức là sao?"

"Mà thôi, mày không hiểu được, mà, trên thực tế thì ngay cả bản thân tao cũng không hiểu hết Aphrike này. Cứ biết nơi là nơi dễ vào nhất, vậy là đủ."

"Vậy hả..."

"Tuy nhiên, thoát ra không đơn giản. Vừa rồi tao đã dùng rất nhiều ma lực để tạo tầng kết giới dày nhất bao quanh chính mình, để cản lại linh lực chết tiệt mùi mẫn tìm dấu hiệu nguy hiểm trên người tao. Giờ thì tầng kết giới đó đã trở nên mỏng dần, khả năng của tao cũng có giới hạn, cho nên không còn nhiều thời gian, đừng có rề rà. Chúng ta phải đi tìm người có thể đưa chúng ta ra khỏi đây. Vả lại, tao cũng phải tìm một thứ."
.

.

.
"Không tiếp."

Đó là câu nói duy nhất vọng ra từ ngôi nhà nằm trong một con hẻm nhỏ dọc khu phố ổ chuột - xó xỉnh của toà thành Eskendereyya, ngay khi Paul vừa đặt tay lên gõ cửa mấy tiếng. Gã nói với cô, gã nghe đồn rằng, có một người may búp bê vải tại một khu ổ chuột trong tòa thành này. Ông ta có thể cung cấp bất cứ thông tin gì, chỉ ngoại trừ đốt cháy giai đoạn của quá trình hồi sinh. Nhưng có một điều khó ưa ở ông ta, đó là không gặp bất cứ ai, khi đang trong thời điểm ông bận rộn với những mũi kim, sợi chỉ và những mảnh vải rách.

Thật xui xẻo là họ lại đến đúng vào thời điểm này.

"Tôi hiện đang vô cùng gấp gáp, mong ngài bỏ chút thời gian, tôi sẽ trả ơn ngài bằng mọi giá."

"Không tiếp." Vẫn là giọng điệu đó, câu nói đó.

Paul nghiến răng, biểu hiện của gã hiện tại, lộ rõ rằng gã đang dần mất kiên nhẫn.

"Được rồi. Tôi có mắt trái cho búp bê vải, sẽ là một con búp bê vải Á Đông. "

Dung không hiểu Paul nói vậy là ý gì, căn bản, gã đã giấu đi một điều quan trọng nhất.

Khi gã vừa thốt ra câu này, cánh cửa đột ngột bị bật tung ra. Một lão già tóc đỏ như màu máu, rũ xuống che gần nửa khuôn mặt, trán đeo một băng gạc màu tím, da mặt đen sạm, hõm mắt thụt sâu, nhìn rõ cả quầng thâm dưới mắt. Lão chống gậy, trên cán của cây gậy cũng lại là biểu tượng chìa khóa Ankh. Vẻ mặt không mảy may một chút đổi sắc khi thấy Paul bị hất lùi lại, lưng va vào tường đối diện. Lão ngó nhìn xung quanh, thẳng tới chỗ Dung, đột nhiên hai mắt sáng rỡ, cười nhàn nhạt.

"Được đấy, lão muốn có đôi mắt trái này, đồng ý trao đổi, lão sẽ không cho chúng bây đổi ý."

Nguồn linh lực vừa rồi rất lớn, Paul còn không kịp ý thức được, đã bị nó đánh bật. Dù đau điếng, nhưng vẫn gắng gượng, gã hơi nhếch miệng.

"Một mắt trái thất lạc và trống rỗng, cái giá đó, phải là hai thông tin."

"Đừng được nước lấn tới thằng ranh, bây có tin hay không, lão sẽ cắt cổ bây như cắt cổ một con gà, và móc đôi mắt trái xinh đẹp kia ra?"

"Ông sẽ không làm thế, và cũng không thể làm được. Tôi biết rất rõ."

Lão quay ngoắt đầu trừng mắt nhìn Paul, nhưng gã rất bình tĩnh, rất chắc nịch. Lại quay sang nhìn Dung, rồi thở hắt ra và xoay người.

"Ha, được thôi, hai điều kiện thì hai."

Nhìn bóng dáng lão đơn độc bước vào trong khung cửa thấp, hai tay Dung siết chặt mép áo. Cô hiểu họ nói gì, nhưng thực ra cũng thành không hiểu lắm. Muốn hé môi nói nhưng lại chẳng biết nói gì. Trống rỗng và hoang mang giống hệt lúc bước từng bước trĩu nặng trên sa mạc. Mọi thứ dường tuột khỏi tầm kiểm soát, khó chịu vô cùng cái cảm giác đó.

Căn phòng của lão già tóc màu máu kia không có gì ngoài một chiếc giường, một kệ gỗ, bộ bàn ghế. Trông cũ kĩ, lụp xụp và tách biệt, nom chẳng mang vẻ như có thể là một người cung cấp đầy đủ những thông tin mà người khác muốn. Chỉ có điều, nó sẽ chẳng khác một căn nhà bình thường của một lão ăn mày sống trong khu phố nghèo, nếu không có những con búp bê vải được may bởi những đường nét xiêu vẹo treo đầy trên tường, cách treo chẳng giống ai, đóng một cây đinh ba trên tường, đục thủng bên mắt trái và móc đinh xuyên qua đó. Nơi này tối tăm kì dị, chỉ có ánh sáng le lói từ ngoài cửa chính thấp tịt, mà lại bị mái hiên che đi phần nào. Gáy cô lạnh toát, cô cảm thấy không ổn, thực sự không ổn. Nhấc chân toan chạy, nhưng lại chẳng thể, đột nhiên chẳng hiểu sao cả người không nhúc nhích được.

[Giờ này thì mày không còn cơ hội bỏ chạy nữa đâu!]

Trong tâm trí Dung vang lên một giọng nói quen thuộc, là Paul. Nhìn sang gã đứng ngay cạnh, cô cũng thấy gã đương nhìn mình, mắt trợn trừng.

[Xin lỗi nhé, con ranh. Bớt ảo tưởng mày sẽ được cứu. Hoặc là tao biến mất, hoặc là mày biến mất. Mày vốn dĩ cũng không xác định nổi mày là ai, vậy thì biến mất đi, tao phải lấy món đồ tao cần rồi ra khỏi đây, cho đến khi đó, mày tốt nhất ngoan ngoãn làm một đứa trẻ nghe lời.]

Gã dùng linh lực của mình để kiềm giữ cô, cô không biết là gì, nhưng hẳn là vậy. Gã từng bước biến cô trở thành một món đồ trang bị, lúc cần đến thì vắt kiệt giá trị để rồi quăng vào một chiếc thùng rác lề đường, nhờ cái gọi là đồng hành không đáng tiền tồn tại giữa cả hai. Tuy vậy, cơ bản thì không chết bởi gã, cô cũng chết bởi bầu trời Aphrike.

Đánh mất khả năng kiểm soát bản thân, cô chẳng khác gì so với mấy con búp bê vải kia, vô dụng. Không, dù không giống chúng thì cô vẫn chẳng đủ năng lực cứu sống bản thân.

"Hai đứa bây đã trăn trối với nhau đủ chưa?" Lúc này, lão già kia đang ngồi ghế tựa mân mê con búp bê vải, tự dưng mở miệng hỏi.

Paul hơi ngạc nhiên, không ngờ lão nghe thấy hết những gì mình dùng linh lực truyền tới con nhóc kia, nhưng lại nghĩ đến sức mạnh đã đánh úp gã không kịp trở tay ban nãy, thì điều này cũng chẳng có gì là lạ.

"Tất nhiên." Gã đáp lại.

Lão già gật gà gật gù lấy từ trong kệ gỗ ra một chiếc gương, lão đứng đối diện Paul, trong gương là một màu đen, chẳng có gì cả, lão vén tóc đỏ qua mang tai, kéo băng gạc xuống, bên trên đôi mắt trái có thêm một đôi mắt nữa, tròng mắt đỏ sậm.

"Tìm đến lão, bây muốn điều gì?"

"Tôi muốn lão chỉ cho cách thoát khỏi đây và tôi muốn biết cách lấy được kiếm xuyên hồn."

"Rời khỏi? Kiếm xuyên hồn? Chà, không nghĩ thỏa hiệp, mà gặp đúng ngay mẻ khó chài."

Dung trầm mặc đưa mắt nhìn sàn nhà. Gã cũng đòi hỏi quá cao rồi chăng?

"Lão sẽ giúp bây, nhưng có giới hạn. Biết Ankh và Capoeirist chứ?"

Dung ngước lên, hướng chỗ lão già kia. Ankh là quân đội tinh nhuệ của vương quốc, được huấn luyện và duyệt binh ở tòa thành Ethiopia – còn có cái tên khác là “Phrike”, với mục tiêu bảo vệ kết giới này, ngăn chặn lại sự xung đột giữa các tòa thành và sự nổi loạn của quần chúng, Paul kể vầy. Còn Capoeirist, cái tên này quả thực xa lạ vô cùng.

“Tôi biết.” Paul gật đầu.

Capoeirist, những người nhảy vũ điệu tử thần – Capoeira, một vũ điệu hay còn là một môn võ thuật mang theo sức mạnh và linh lực vô cùng lớn. Vũ điệu này dung hòa niềm vui và sự chết chóc, hai thứ vốn không lien quan quện vào nhau. Những chiến binh đó là binh đoàn mạnh nhất ở Aphrike này, đó, lí do mà vùng đất này được cho là nơi có thể dễ dàng đặt chân vào mà khó có thể bước ra ngoài.

“Capoeirist vốn dĩ là những kẻ nổi loạn của thành Phrike, đứng lên nhằm chống lại sự áp bức. Nhưng chúng bị kìm hãm, bị thu phục…bởi một chủ nô có tiếng ở trong thành, phải mang trên người lời nguyền sẽ phải một lòng trung thành với chủ nô. Thứ duy nhất chống lại sức mạnh của họ chính là Ankh. Cách sử dụng, nằm ở trong cán cầm, nhưng không phải ai cũng có thể sử dụng nó được. Còn kiếm xuyên hồn, nó nằm ở tòa tháp trụ, nơi cao nhất và cách lấy...”

“…”

“Thì lão không thể giúp bây được hơn, và giờ thì xéo ngoài.”

"Nhưng cơ sở nào để đảm bảo những thông tin ông đưa ra là chính xác?"

"Đi nhanh, nêu mày không muốn phải hối hận."

Paul hơi nghệt mặt, nhưng sau đó liền cười lạnh. Chính là không ngờ rằng, lão già này lật mặt còn nhanh hơn cả lật giấy như vậy, gã thấy, trên khuôn mặt già nua và trầm tĩnh của lão, lại thoáng qua một nét cười nhàn nhạt. Và ngay thời khắc đó, nóc nhà bật tung ra, hai bên tường nứt vụn và ập xuống, không thấy những mái nhà đổ nát khoảng cách nới đều đâu, lúc này lại biến thành một bãi đất trống, Dung và Paul, cả hai người đều bị bao vây. Đó là một đoàn quân cầm Ankh, khoác áo choàng màu đen, đeo mặt nạ gỗ màu bạc. Mặt nạ được chạm khắc đường ziczac từ giữa trán sang hai bên mang tai, trên đỉnh mặt nạ uốn một nét lượn sóng tạo thành một đuôi tóc vắt qua đỉnh đầu, và tiếp tục là một đường ziczac nằm trên đó, đối xứng với đường phía trong, cùng nhiều sọc chéo bện vào nhau theo quy luật. Tại vị trí hõm mắt là những hình tam giác xoáy trôn ốc, miệng được vẽ một lưỡi liềm cong xuống biểu thị nụ cười. Ở họ - có một sự nguy hiểm.

"Chuyện này mày không thể trách lão được rồi. Lão đã hai lần nhắc nhở mày, một là 'không tiếp', hai là 'cút'. Vậy mà mày không nghe. Lão không cảnh báo ai quá hai lần bao giờ." Lão già tóc đỏ không biết từ lúc nào đã đeo lại băng gạc tím, thời khắc này đương khoác lên mình dáng vẻ tráo trơ, và vô tội, như thể mọi việc xảy ra như vầy là lẽ đương nhiên, chứ không liên quan đến mình.

"Việc này...do ông giở trò?" Gã chú mi, đưa ra kết luận, sau một hồi im lặng lắng nghe.

"Ồ không, lão chỉ lỡ tay phá kết giới của mày và dựng lên kết giới ảo để mày không phát hiện ra thôi."

"Chó chết!" Paul nhoài người tính tiến tới phía lão tóc đỏ, nhưng ngay lập tức, luồng sáng từ vòng cung của Ankh đã khóa chân gã thật chặt trên nền đất, năng lực bản thân còn không đủ để gã giãy dụa, huống chi là thoát ra. Cả linh lực gã dùng yểm lên trên người Dung cũng tự động được thu hồi, nhưng ngược lại với gã, cô không cố cựa quậy, chỉ trầm mặc nhìn xuống mặt đất, giống như đang suy nghĩ gì đó. Hai người tạo nên hai khung cảnh đối lập.

Một nguồn năng lượng đánh tới, khiến ý thức của cả hai đều dần dần trôi tuột khỏi trí não.

Trước lúc mọi thứ trở thành một mớ hình ảnh hỗn độn với cát vàng, trời trắng xóa và những chiếc mặt nạ cười, họ nghe thoáng thấy âm thanh phát ra từ đâu đó, trong chuỗi những suy nghĩ rối ren về ngày sau sẽ ra sao.

"Ngu xuẩn nhất là những đứa cố tìm hiểu những gì mình tò mò. Nên ít thắc mắc thì tốt hơn, mà, cũng chẳng thể thắc mắc, chúng bây sắp chìm cùng những bí mật, nhanh thôi..."

***


Bốn bức tường, bóng tối, và im lặng, ngoài ra thì chẳng còn gì khác. Hai người ngồi sát hai góc tường, mỗi người đều đang chạy rượt theo suy nghĩ, trong thế giới nội tâm của riêng mình. Ngoài kia là những tiếng gào đan vào nhau, nghe chát chúa, ở căn phòng này thì quạnh quẽ và mịt mờ. Ngồi nhà lao đã hơn ba tiếng đồng hồ, nhưng ai nấy trong hai người đều không chịu hé một lời.

Họ biết được từ cảnh báo của một cai ngục, yêu cầu họ không nên cố tìm cách trốn thoát khỏi đây. Anh ta nói rằng, thống lĩnh toàn bộ tòa thành này là một vị trưởng lão có mái tóc màu đỏ như máu, trên trán đeo một băng gạc tím, ông ta - đối với bất kì ai ở Phrike này đều là người cần đề phòng. Anh còn đề cập đến quy luật tái sinh ở thế giới này - sau một lần chết, con người có thể tái sinh và sống với số tuổi bằng nửa số tuổi ban đầu, cho đến khi tuổi của mình sau tái sinh chỉ còn một tuổi, họ sẽ chết vĩnh viễn. Nhưng, tồn tại một số linh vật, nó có thể khiến con người không thể tái sinh được nữa, và ở đây, nó được dùng để ban án tử các tù binh. Những tù binh sẽ bị bỏ đói mười ngày trước khi bị giết, nhưng không chết ngay, mà bị rằn vặt suốt ba ngày mới chết.

Khi Paul hỏi, anh bạn là cai ngục và tôi là tù binh, lí do gì mà anh bạn lại nói với tôi điều đó, chẳng lẽ muốn giúp tôi.

Đương nhiên, gã không tin vào điều đó.

Người cai ngục cười khan, cho gã hay, một số, hoặc có thể là rất nhiều cai ngục cũng như anh ta, căm ghét cái tòa thành đầy mùi tanh này, luôn muốn giúp gì đó cho tù binh, nhưng chẳng đủ khả năng mà thực hiện điều này, cho nên, anh ta chỉ làm được những điều có thể.

Các bạn là tù binh và tôi là cai ngục, nhưng không dám khẳng định ai mới là tù binh ai chẳng, các bạn là tù bình của tôi, còn tôi là tù binh của bầu trời này. Các bạn bị nhốt cũng là tù bình, chúng tôi mang gánh nặng cũng là tù binh. Từ lâu chúng tôi đã phải chôn chân ở đây, vậy nên, trong nhà ngục này, chúng ta bằng nhau.

Điều duy nhất tôi có thể giúp các bạn, đó là cho các bạn biết, các bạn chết bởi ai và chết như thế nào.

Anh ta nói vậy, rồi không buồn nghe người đối diện trả lời, liền quay người cất bước đi. Bấy giờ, vốn dĩ đang trầm mặc, Dung đột nhiên lại mở miệng nói bâng quơ.

"Ngài cai ngục, ai cũng phải chết cả. Cho nên, hẹn gặp lại, khi mà trên vai mỗi chúng ta không còn một gánh nặng nào."

Tiếng nói vang vọng cùng những âm thanh gào thét hỗn loạt, réo rắt theo từng bước chân của người cai ngục. So với gắn một quả tạ vào một mắt xích và quấn quanh cổ chân, áp lực vô hình còn muốn nặng hơn. So với một chiếc thòng lọng siết chặt cổ, thì những nỗi lòng được bộc lộ bằng sự im lặng còn muốn uất nghẹn hơn.
.

.

.
"Này, mày còn hận tao lắm?"

"..."

"Mày biết đấy, gần như ai cũng quý mạng sống và mong muốn của mình hơn một kẻ qua đường. Và tao không dư dả lòng tốt mà đặt việc giúp một người lạ hoắc lên hàng đầu. Nên mày không thể trách tao."

Ngày thứ hai họ bị bỏ đói trong ngục tối, không chịu nổi được một con nhóc luôn huyên náo không dứt mà nay lại cậy răng cũng không thèm nói lấy một lời, điều đó khiến Paul có cảm giác không quen lắm. Gã rất khó chịu, đã bị nhốt ở một nơi âm u và nóng bức, lại chỉ có những tiếng la khóc ở những phòng giam ngoài kia, cộng với việc linh lực trong cơ thể gã đã bị rút cạn, dấy lên trong lòng bao mối tơ vò. Gã nghĩ đến biện pháp cuối cùng để thoát khỏi đây, nhưng nó có thể dồn gã vào chỗ chết.

"Tao có cách giúp mày ra khỏi đây, thế nào?" Paul sốt ruột.

Lúc này, Dung mới chịu nói, nhưng giọng điệu đầy mỉa mai:

"Mày không thấy lời này mâu thuẫn với lời trước đó lắm sao? Tao không nghĩ là não mày đột ngột bị hỏng, sao không lo mà tự giúp lấy thân mình?"

Gã nhay hai bên thái dương, từ lần gặp đầu tiên, đã nghĩ đứa trẻ này hơi có tư duy hơn so với những đứa trẻ bình thường, nhưng dần dà mới chắc nịch khẳng định, Dung không phải là một đứa trẻ.

"Ài, thế nào nhỉ, tao nghĩ ra cách thoát khỏi đây, cần mày, hoặc là chúng ta cùng thoát, hoặc là chúng ta cùng chết tại đây." Thấy cô nhướng mày, gã lại tiếp lời "Sắp chết đến nơi rồi, tao chẳng còn hơi sức đâu mà đi lừa mày."

"Vậy...là gì?"

...

Theo như Paul nói, gã sẽ liều mạng thực hiện dịch chuyển linh hồn, điều này rất ít người trong dòng tộc kết giới sư đủ khả năng đề làm. Việc này không cần đến nhiều linh lực, chỉ cần triệu vòng tròn linh thú và cần một người không có linh lực, kết giới sư phải rạch một đường từ bả vai trái xuống mu bàn tay của người đó. Gã hỏi cô, có đồng ý thi hành không, cô nhíu chân mày hồi lâu, rồi cũng nặng nề gật đầu. Dù sao, cũng sắp phải chết, một vết rạch cũng chẳng ăn nhằm gì.

Bấy giờ, Paul mấp máy môi, trên tay bỗng nhiên hiện ra một lá bùa, móng tay gã dài ra, mắt chuyển bạc, bên má phải xuất hiện hình lục giác màu tím sáng rực.
đưa tay cào dọc cánh tay trái của Dung, một cảm giác đau xé. Máu tong tong chảy xuống, mùi tanh nồng nặc. Dưới chân cô và gã xuất hiện vòng tròn lớn màu tím, trong vòng tròn lớn là những vòng tròn nhỏ. Trên đó có hình thú tượng hình và cả mặt trời, mặt trăng, chúng xoay tròn, vòng ngoài vòng trong xoay ngược chiều nhau. Không chỉ vậy, còn thân xác của cô đang nằm ở dưới, trên thực tế, linh hồn mình rời khỏi thân xác lúc nào mà cô chẳng hay biết. Rồi linh hồn cô mờ dần trong vòng tròn, ý thức cô cũng theo đó mà trở nên mê mang. Chỉ kịp nghe Paul nói:

"Có một điều tao...chưa nói cho mày, mày lại bị tao lừa rồi. Xin lỗi, và cám ơn."

Sau khi linh hồn cô biến mất, gã nhanh chóng rời hồn sang ngụ trong thân xác cô rồi quay qua tự đưa thân xác mình vào trạng thái chết hẳn. Gã lừa cô, việc dịch chuyển linh hồn này vốn chẳng có gì khó khăn, chẳng qua ít ai biết, và chỉ dòng họ thuần kết giới sư mới có thể làm. Nhưng kết giới sư có thể phong tỏa hoạt động của một người, tuy nhiên, với linh hồn của họ thì không. Chỉ cần trong tiềm thức, người bị dịch chuyển linh hồn kháng cự lại, kết giới sư sẽ không thể thực hiện, thậm chí thiệt mạng. Bởi thế đòi hỏi phải có một người đứng yên đó, nguyện để cho kết giới sư dịch chuyển linh hồn. Và sau đó, kết giới sư sẽ dịch chuyển linh hồn mình vào thân xác đối phương, và nhờ thế mà gã có thể thoát khỏi phong ấn tồn tại trong mỗi kết giới sư mà dịch chuyển tự do trong không gian.

Về phần linh hồn bị kết giới sư rời khỏi xác, nó lạc vào không gian ảo, nơi đó, nó buộc phải đi tìm một thân xác đoản mệnh mà đẩy thân xác đó ra, nhưng không phải ai cũng có thể làm được, đa phần đều sau bốn ngày không thể làm gì nên bị giam mãi trong đó.

Trong luật của kết giới sư, có tồn tại một điều cấm, đó là – không được lừa dối và làm tổn hại người thường, bởi, kết giới sư có mặt là để bảo vệ người thường.

Hẳn là, gã sẽ trở thành tội đồ nếu trở về dòng họ, và được vinh dự ban bản án an tử. Nhưng đó là chuyện sau này, gã không quan tâm, dẫu sao, khi đặt chân rời khỏi dòng tộc, gã đã trở thành một tên tội đồ.

Két!!

Khi Paul vừa định lau vết máu dưới sàn thì tiếng cổng sắt mở nghe chối tai vang lên. Lão già tóc đỏ chậm rãi bước vào. Nhìn thấy người đàn ông vạm vỡ thì nằm bệt trên sàn, còn cô nhóc bé nhỏ thì lau chùi máu vương vãi, lão bật cười.


"Hà hà, ồ, hay đấy. Lão định tới lấy đi mắt trái của bây theo như thỏa thuận. Nhưng, nghĩ lại thì...hẳn là giữ lại, như vậy sẽ vui hơn."




Mùa vải sai trĩu [Chương 1]

Mùa vải sai trĩu


Tác giả: Nhạt


"Mày sẽ quay lại chứ?"

"Đương nhiên rồi."

Chẳng qua, không biết là bao giờ thôi.

Đó là một buổi xế chiều, tôi và tụi bạn thân, cùng sóng vai nhau. Trong sự cô tịch vô biên, trong màu đỏ của ánh mặt trời muộn, và trong cả màu đỏ của mùa vải giữa hạ.

Sau ngày ấy, tôi rời làng để cho mình cái sổ hộ khẩu người phố. Cuộc sống đơn giản, suy nghĩ cũng trở nên đơn giản. Chỉ nghĩ muốn có cuộc sống dư dả hơn thôi. Nhưng đời đẩy tôi tới đâu, tôi chẳng có quyền chọn. Dù sao thì, với tôi, bấy giờ chỉ có hiện tại và hiện tại. Hi vọng lớn lao nhất chẳng qua là vượt qua khỏi ngọn tre đầu làng.

Từng hứa, sẽ mãi không xa cách nhau, không xa khỏi ngôi làng này, lời hứa vẫn còn đó.

Từng thề, không mở mày mở mặt thì không về, không gặp bất cứ ai, lời thề thì cũng vẫn còn đó.

Cái gì cũng đều vẫn còn đó, chẳng qua ngỡ là mình đã đánh mất, hoặc vô tình phủi đi sự tồn tại của nó. Người trẻ tuổi giống như mặt nước, gió thổi một, sóng gợn mười.
.

.

.

* Thứ nhất: Mọi sự luôn thay đổi, và ai cũng biết.




1. Hồi tôi học lớp hai, thầy tôi qua đời, cũng do bất cẩn mà tượt xuống chân đê. Nhà mà khá giả, không tang to thì tang nhỏ, xôn xao ti trúc. Nhà tôi không như nhà người, ngày thầy mất, cũng chỉ có quả trứng gà là sang, quả trứng mà nửa đời thầy chưa từng ăn, cũng nào dám ăn. Nó đặt trên bát cơm trắng đong đầy, thổi từ gạo mậu dịch mốc meo phân phát theo khẩu phần, với nén nhang đưa hương nhàn nhạt. U tôi buồn thật buồn, hàng xóm sang an ủi đôi lời, bình ổn phần nào, chỉ phần nào thôi.

Ngày tháng dần trôi qua, người ra đi thì cũng ra đi rồi, trên thực tế, cũng chỉ cất vào lòng, trong chiếc ngăn tủ không ai với tới, chẳng thể mang theo hình bóng người đã khuất theo mãi về sau được. Mất đi thầy, u đã nhọc lại mang thêm nhọc.

Được cái bấy giờ ông ngoại sẽ rất khỏe, nếu không phải có chứng nhức nhối cột sống đeo bám, nhưng dầu thế, việc vừa việc nhỏ, ngoại vẫn một tay lo liệu cho đến đầu đến đũa. Hơn, ngoại coi việc ruộng trên ao dưới như thú vui, tôi biết, u biết, ai cũng biết, ngoại sống rất khắc khổ.

Nhà tôi rộng, đất cụ để lại, dẫu trong rỗng ngoài rỗng, vốn chẳng có chi, nhưng rất ấm, tôi từng nghĩ có lẽ do vầy mà lũ bạn cùng làng xôm tụ ở nhà tôi. Tụi nó rất thích chơi tú, cứ lúc nào xong bài thì lại mò qua tụm năm tụm bảy ở hiên nhà tôi chơi tú. Ngay cả ngày mưa dầm, tôi vẫn thấy tụi nó đứa ôm mấy cuốn tập, đứa cầm cây chì, đứa thủ ở túi bộ tú, đứa tay không. Chúng nó xắn ống quần quá gối, đầu đội nón, chân đất lội mưa, vẫn thấy tiếng cười nói rôm rả vọng từ ngoài cổng xa vọng vào. Đều gần lứa với nhau cả, nhưng đứa nào ngồi ngoài cũng lanh chanh chỉ cho đứa ngôi trong chơi, rồi là chê ỏng chê eo, đến khi vô thay chân thì chẳng khác.

Tôi không chơi cùng tụi nó, thời điểm tụi nó sang, mang theo bài tập trên lớp cho tôi, tôi vừa ngồi hí hoáy làm bài, vừa thi thoảng ghé mắt nhìn tụi nó, kể ra thì đấy cũng là một niềm vui, niềm vui nho nhỏ mà tôi cất mãi trong lòng cho tận tới khi rời làng.

Tôi rất thích nhìn cái tí Thơm đứng ngoài gặm ngấu nghiến vỏ bộ tú, sốt ruột chờ đến lân mình. Thơm bé nhất trong hội, nó e dè và chậm, đến nỗi đi đường hay bị bỏ lại, phải hớt hả chạy xoạc móng heo. Tôi thích nhìn thằng Chuột cười ha hả, thậm chí nhảy lên như rồ khi thắng, rồi cái Sương ngồi sau sẽ vung tay quất vài cái lên đỉnh đầu nó. Chị em nó một đứa nóng một đứa lạnh, luôn khiến tôi bật cười. Mỗi lúc tôi không nhịn được cười thành tiếng, cái Sương mặt nó xẹo xọ, quay sang mắng tôi.

Mi cười gì chứ! Mi lo học bài mi đi, để tao dạy em tao.

Tôi thích cả khi thấy thằng Xuyến bận nào vào thua tái mặt nấy, bị bắt quỳ, ăn vạ đập bài xuống đất bảo không thèm chơi nữa. Sau, nó cứ xì xì ngồi ngoài, rủ cũng không thèm ho he vô thay chân, tụi kia bảo, thằng Xuyến nó rái bị quỳ nên ra vẻ.
Và còn rất nhiều.

Tôi thích tất cả những điều đó, những con người đó, đã gắn bó với tôi, coi tôi như một phần của họ.

2. Tôi rất muốn được đi học, không chỉ có tôi, ngoại trừ mấy đứa khá giả chút đỉnh, còn đâu đứa nào đến ngày đi học thì vui cũng đáo để. Với tôi, việc được đi học nó khó khăn biết nhường nào.

Nhà tôi ở quanh đây gần như thuộc diện con đàn cháu đống nhất. Anh cả tôi học tới đến đại học, được chuyển lên phố, ước mơ của anh là trở thành nhà khoa học, nhưng đợt phân bố sinh viên, thế nào lại bị gạt sang sư phạm, trường xa lắc xa lơ. Không muốn thì cũng chẳng dám kháng, vả lại bấy giờ, anh và các sinh viên bị gạt sang, cũng chẳng định hướng học ra làm gì, chỉ cần được học, vậy là đủ.
Môi trường không quen, tình hình học tập trở nên uể oải.

Ở đấy sống khó, nhà lại không thể gửi đồng rau, miếng gạo, tấm chăn hay manh áo lên cho anh, họa có gửi được thì cũng chẳng qua khỏi lệnh kiểm soát. Cuộc sống của anh cứ trực chờ vào mấy con tem cỏn con với cái sổ gạo thất thường, người ta có gì cấp nấy, nhiều hôm đói meo, lắm khi còn xô xát với bạn học vì mảnh chăn mỏng, sai tí sai tị cũng tính phạt theo thóc. Hiếm hoi anh mới có dịp về nhà, mỗi lần trở về lại trông như mất đi miếng thịt, trán mồ hôi nhễ nhại do chen đò, người ngày càng hốc hác, ốm quay ốm quắt. Nhưng vẫn ngồi kể chuyện học chuyện hành trên đấy với u. U tôi xót lắm, bảo hay thôi không học nữa, về làm ruộng, được đâu thì được. Nhưng anh vẫn kiên quyết, nói rằng muốn nhà mình có cuộc sống tốt hơn. U đành ngậm ngùi cùng anh em chúng tôi tiễn anh tới đò, dặn anh ráng giữ gìn sức khỏe. Và rồi thì không lâu sau, nhà hay tin, rất nhiều sinh viên khốn đốn quá mà vượt biên trốn ra nước ngoài, trong đó có anh cả, mẹ tôi đau đáu khôn xiết, ngoài kia người ta huy động lùng, bắt giam được không ít sinh viên, thật may lần này không có anh.

U tôi bảo, chỉ cần anh chúng mày không gặp nguy hiểm là tốt lắm rồi.

Trông u thế, nhưng chỉ đêm đến, vẻ rầu rĩ mới hằn rõ lên quầng thâm dưới hõm mắt u. Khi tôi choàng tỉnh từ cơn mơ về một nơi xa xăm, nơi con thuyền ước mơ không tìm được bến đỗ, chênh vênh trên những con sóng đỏ của buổi chiều tàn. Thì mí mắt u tôi dù đã nặng trĩu nhưng vẫn không thể khép lại mà chìm vào giấc ngủ. U ngồi bên ánh đèn dầu chập chờn trước gió, cạnh khung cửa, bóng u trên tưởng lúc nhòa lúc sậm, tôi ghi hình ảnh đó vào trong tâm trí, tận sâu. Nhưng phải nhiều năm qua đi, tôi mới hiểu được, hình ảnh đó đó là biểu hiện của sự cô đơn tột cùng.

Nhà tôi anh cả đi rồi, có anh ba bấy giờ là học cao nhất, sách bao giờ cũng được nhiều nhất, còn được thửa đôi dép cao su để đi học, nó làm từ lốp xe cũ. Tôi rất thích nó, với một đứa quen giẫm chân trên bùn đất, thì đương nhiên, đôi dép là cả một niềm ước ao. Hồi mới thửa được, tôi còn nài nỉ anh ba cho đi thử, anh ba giằng co mãi mới gật đầu bảo tôi cẩn thận không đứt. Tôi mừng quýnh, vội đeo vô và chạy vòng quanh, chân tôi chỉ nhỏ bằng một nửa dép, chạy nghe lạch bà lạch bạch, ngoại cười ngoại nói tếu trông tôi như con vịt giãy chết.

Anh hai tôi lưng chừng lớp chín thì bỏ bê, do học hành không vô đầu nên nản quá, chểnh mảng, rời quê đi xa làm công, anh làm dép cao su ở xưởng nhỏ, làm kham khổ nhưng lương chẳng có bao nhiêu, may thì được phát tem, không thì người ta trả lương bằng dép, anh cũng phải cắn răng mà mang về, nhà hết người đi thì lại đưa mấy đứa nhóc hay sang chơi, nhìn đôi dép, tôi và tụi nó mừng húm. Duy chỉ có u, anh hai và chị tư là buồn thỉu buồn thiu.

Chị tư vì là con gái, nên chỉ học hết lớp bảy là xếp bút nghiên ở nhà trông thằng út. Chị sớm đã trưởng thành hơn vẻ ngoài rất nhiều, chăm chỉ lo toan, chắn vén, đỡ đần mẹ và ngoại không ít sự vụ. Nom chị mà tôi thấy tủi cho chị, cũng tủi cho tôi. Bởi lẽ, dù gì thì sớm hay muộn tôi cũng sẽ giống như thế.

Thời điểm đó, cả thầy cô cũng ăn lương theo cái sổ gạo thất thường đấy là chính, tháng được tháng mất, nên cũng khó mà có được thầy cô ngậm khổ ngậm nhọc mà thành tâm dạy học.

Nhà tôi nghèo hơn hết so với những đứa trẻ cùng lớp khác. Vì không đủ tiền đóng học, mà cô lại không cho khất, nên dăm bữa nửa tháng tôi lại phải nghỉ. Chúng bạn thương tôi nhiều, chung tay mỗi đứa hai trăm con, gom góp mang xin cô cho tôi đi học. Tôi lại chẳng cho gì được chúng nó, ngoài tiếng cám ơn chân thành. Tôi tự nhủ với lòng, sau này phải kiếm được nhiều hai trăm để trả cho họ.

Cho đến sau khi lớn lên rồi, khi mà đồng hai trăm đó nằm rải rác trên đường có lẽ cũng chẳng ai thèm nhặt, tôi chợt nhớ ra ước muốn thoáng qua ngày bé tí, nhưng thứ mà tôi nợ những người bạn không phải một món tiền, mà là một ân tình.

Giá trị của đồng tiền thì không thay đổi, nhưng giá trị của cuộc đời thì luôn đổi thay.

Tôi cất tất cả những đồng hai trăm con tương ứng với số học sinh của lớp, cất gọn trong một chiếc hòm, giống như cất cả những tiếng cười giòn giã dưới bầu trời thu ngày ấy, cất cái nắm tay thân thiết; cất hình ảnh cô nhóc hôm xưa đứng ngẩn ngơ mà khóc giữa đám đông, trong căn phòng học gần như đổ nát.

Đâu phải cái gì lấy đi rồi là sẽ mất? Nhưng cũng đâu phải cái gì lấy đi rồi vẫn sẽ trả lại được? Có khi không mất, nhưng cũng chẳng thể trả lại.

Chạy ngược quy luật (Mở đầu & Chương 1.1)

 Guồng quay thời gian.

Tác giả: NTD.


Tập 1: Chạy ngược quy luật



Mở đầu.



Giữa biển cả bao la, tòa lâu đài trắng tráng lệ tọa lạc trên mặt nước, nguy nga sừng sững, đứng biệt lập với thế giới bên ngoài. Đối lập màu trắng tinh khôi là màu đen đục ngầu của vòng tròn kết giới nằm giữa đại dương, bao quanh, đặc quánh như đầm lầy, mặt nước cuồn cuộn chạy theo quỹ đạo thẳng ra xa khỏi tòa lâu đài. Với những chấm điểm xám bạc, vượt sóng vun vút, lội ngược dòng về phía bốn cánh cổng cổng lớn đối thẳng ra bốn hướng. Đó là những linh hồn chơi vơi trong khoảng tối trống rỗng vô định hình, chúng ra sức bơi về phía ánh sáng, nơi rực rỡ nhất trong đáy mắt, và đương nhiên, không phải cứ muốn với là có thể tới, càng bơi lại càng xa, tuy vậy, vẫn bị mắc kẹt trong ranh giới của đầm lầy đen, không thể tiến nhưng cũng không thể lùi. Từ xa nhìn vào chỉ thấy bốn cây cột đá bạc xếp thành hình vuông, chúng giống như tự phát sáng, phản chiếu lẫn nhau thành tầng sáng bao quanh tòa lâu đài tựa khiên chắn ảo. Thời điểm bình minh, những người gác cổng có đôi mắt màu tro, mái tóc bạch kim dài sát gót, thân mặc áo trắng chùm xuống mu bàn chân, họ đứng bên trái cánh cổng, luân phiên hát, tiếng hát cao vút vang vọng đất trời hòa cùng tiếng nhạc phát ra từ đỉnh của tòa nhà, nơi treo chuông bạc khổng lồ. Ở đó có một dàn nhạc, những linh hồn vô thức được lựa chọn điều khiển nhạc cụ.




"Tuba mirum spargens sonum
Per sepulcra regionum
Coget omnes ante thronum."

"Mors stupebit et natura
Cum resurget creatura
Judicanti responsura.
Liber scriptus proferetur
In quo totum continetur,
Unde mundus judicetur."

"Judex ergo cum sedebit
Quidquid latet apparebit,
Nil inultum remanebit."

"Quid sum miser tunc dicturus,
Quem patronum rogaturus,
Cum vix justus sit securus?"
"Cum vix justus sit securus?"

Âm nhạc ở đây, tất cả đều được gieo vào một linh lực lớn, khiến hàng ngàn hàng vạn hạt nhỏ bé di chuyển tạo thành sóng dọc  vô hình kia, xếp sát nhau, hiện hữu thành tia sáng tím, những đợt sóng âm thanh tần số nhỏ lớn, bắt gặp, nối nhau làm nên vòng tròn khép kín dao động theo phương hướng ra ngoài tâm phát ra âm thanh, cắt ngang nỗi oán niệm tích tụ bên những linh hồn.

Nơi đây, cứ bốn ngày ánh sáng mới tới một lần, nỗi oán niệm ứ đọng thành khối lớn. Chính bởi vậy, những người quản sự tối cao quyết định lựa chọn bài cầu siêu, gieo linh lực vào khúc nhạc, nhằm hóa giải nỗi uất hận của sinh linh. Họ tiến tới lựa chọn thể âm giai thứ hòa âm, sau bao tranh cãi, rốt cuộc những người quản sự tối cao đã quyết định lựa chọn khúc 'Tuba mirum' trong bản Requiem.  Linh hồn của bản nhạc này mới đủ sức mạnh kiềm hãm oán hận, tiếng gào thét ngoài kia, bản nhạc được chính người soạn coi như là bộ lễ cầu hồn cho chính bản thân, viết lên trong giây phút hấp hối. Tuy nhiên, ám ảnh của nó quá lớn, họ sẽ mất rất nhiều linh lực nếo trực tiếp gieo lên bản nhạc. Do đó, họ gieo vào một cung nhạc, dùng cái hồn của nó để chấn áp bản giao hưởng này. Chính bởi thế, tất cả những bản nhạc được sáng tác ở cung Re thứ hòa âm đều không được phép lưu hành và trình diễn nếu không nằm trong sự kiểm soát của linh lực đủ mạnh.


Không ai biết lý do vì sao lại có lệnh cấm này, những người mạo hiểm vượt rào phá bỏ luật đều biến mất. Chỉ những ai giữ chức vị cao mới hay, rằng đây là một hệ luỵ - những bản nhạc sáng tác ở cung này, nếu trình diễn không có sự kiểm soát, tất cả thứ gì tồn tại trong vòng bán kính đường truyền âm thanh dịch chuyển tới, sẽ biến thành chất lỏng màu tím, bao gồm cả sự sống.


Nơi đây, các vị quản sự tối cao đón nhận những linh hồn từ thế giới con người. Họ đều là những người chết bởi tai nạn, bị ám sát và tự sát. Người lấy đi của họ trí nhớ, sắp xếp họ vào một trong bốn vùng đất tách biệt, để họ sống lần nữa thay vì trải qua ngàn năm để siêu thoát.


Nhưng có điều, mọi sự tồn tại ở nơi đây đều có một phần bản chất chạy ngược lại quy luật vốn có và sự sống lại của họ chỉ nằm trong một giới hạn nhất định.


Phần ấy, là 'sự dịch chuyển'.


Tập I: Chạy ngược quy luật.


Phần I: Bốn vương quốc.




Đoàn người nối tiếp nhau tiến bước trong một hành lang dài không có góc chết nào, đa phần, họ đều bị thôi miên và không ý thức được rằng mình đang đi về đâu. Ngoại trừ số ít, thôi miên không có tác dụng với họ. Có những người còn đang lang thang ở các hành lang khác, có người dù không bị ảnh hưởng nhưng vẫn ngây ngốc đi theo dòng người kia vì tò mò, có những người lại lẩn vào trong đấy để tránh bị phát hiện  và mục đích của họ đều là - thoát khỏi đây....

Chương 1: Capoeira.




1. Bóng đen nhảy vụt qua những khung cửa sổ vuông vắn. Đó là một người đàn ông có vóc dáng cao lớn, làn da bánh mật, đầu trọc lóc. Gã vừa nhảy qua, một tiếng động khẽ vang lên, có vẻ như đã đánh động mấy tên cảnh vệ ngoài kia, âm thanh vọng lại, những bước chân dồn dập, ngày một rõ rệt.

Chết tiệt.


Gã rủa thầm. Lập tức vịn tay lên khung gỗ nhô vào trong của cửa sổ, rút chiếc kiếm nhọn treo trên tường nhét vào ống quần phải, lấy chiếc giày bên trái ngậm lên miệng, tháo tất vắt lên cổ để ngón chân cái có thể xỏ vào móc treo kiếm, chân phải gác lên nóc tủ sát bên. Tay phải từ nắm khung cửa làm điểm tựa thì chuyển qua chống hai ngón lên má trên của khung, tay còn lại bám vào chuôi kiếm treo phía trên, khoảng cách giữa mũi nhọn kiếm với khuôn mặt chỉ cách nhau chưa đầy một đốt tay, đủ để nhích mặt nên một chút nó sẽ thọc thẳng vào.


Lưng gã nép sát vào tường, mồ hôi bắt đầu ứa ra. Những bước chân kia tới gần rồi dừng lại. Từ cửa sổ, ngó nhìn vào trong căn phòng, ngoại trừ phía trên khung cửa.


Gã trợn mắt nhìn từng động tác của chúng. Cảm nhận hai ngón tay chịu sức nặng của nửa trên cơ thể bắt đầu run lên, ngón chân đổ mồ hôi có vẻ sắp tượt khỏi. Cả chiếc giày bốc mùi cũng làm gã muốn ngộp thở, nín mấy chục giây nghẹn muốn chết, có lẽ từ giờ trở đi mùi hôi chân của chính mình sẽ là nỗi ám ảnh kinh hoàng. Điều sẽ đủ khả năng trở thành ám ảnh thứ hai mà gã không thể bỏ qua, đó là cơ may chiếc kiếm trong quần có thể sẽ chỉ bởi một sơ sảy nhỏ mà cắt mất đời một thằng đàn ông.


Đứng đấy làm khỉ gì? Còn không mau đi nhanh?! Gã lại chửi thầm trong lòng đợt hai. Rốt cuộc thì mấy tên cảnh vệ kia không thấy động tĩnh gì bèn bỏ đi.


Gã thở phào nhẹ nhõm một hơi, sau đó lại đột ngột hít vào mùi hôi chân,  giật mình, toàn cơ thể gần như đã sắp tượt xuống nay mất thăng bằng ngã hẳn. E sợ lại phát ra tiếng động, gã vội co người, tay móc vào móc kiếm, ngón tay lại chịu sức nặng lần nữa để treo cơ thể lơ lửng. Sau cùng, mới mím môi khẽ duỗi người nhẹ nhàng đáp xuống thềm. Giờ để ý mới hay, đây là một gian phòng chứa sách, ngoài ra vẫn còn rất nhiều món đồ quan trọng. Trên tường treo những khung tranh, nhưng bên trong là mặt giấy trắng trơn nhẵn bóng, xung quanh treo rất nhiều kiếm, những thanh kiếm này tạm coi như đủ khả năng đe dọa mạng người thường, nhưng cùng lắm chỉ là món đồ chơi đối với binh sĩ, bởi chúng chỉ dùng để trang trí, hoặc giả dụ cùng lắm là lấy ra thọc đại khi cần thiết.


Những phòng khác dường như đều có rất nhiều cảnh vệ đứng trước cửa, vậy mà nơi này ngay nấy cả một mống người cũng không có. Điều này quả là kì quái. Bóng dáng cao lớn dịch chuyển tới giá để sách, tuỳ tiện lấy một cuốn và mở ra coi. Dần dà, gã càng nhập tâm vào những dòng chữ trong đó.  Cuốn sách bao quát gần như toàn bộ về thế giới này, bao gồm cả vùng đất gã đương sống.Tốc độ đọc của gã chớp nhoáng, nhưng thời gian không cho phép rề rà căng mắt đọc tập giấy dày cộm kia, với lại, cứ mãi ở đây e là không hay. Dù cho nơi này có vẻ như tuyệt đối không có ai tới, nhưng há chi lại có thể đột nhập dễ dàng vầy, chắc chắn có điều gì đó không bình thường ở đây. Thế nào cũng có sự nhúng tay của ai đó, hẳn là vậy. Tò mò tạm để ra sau gáy, an toàn là trên hết.


Nghĩ vậy, gã lật chiếc thảm mềm dưới sàn lên, toan rút mấy cuốn sách cuốn gói vô trong.


Ừm, cấu trúc tổng hành dinh, quy tắc bốn vương quốc, vương quốc thứ năm...vương quốc thứ năm? Oh?!


Được, tạm thế đã!


* * *


Đây là đâu nhỉ?


Mọi sự kiện trong đầu dường như trống rỗng. Chỉ còn vài mảnh ghép mơ hồ sắp xếp lộn xộn...


Cho đến lúc này, ngoài cái tên của bản thân thì gần như chẳng còn gì đọng lại trong đầu Dung.


Cô hiện đương nằm sấp trên bãi cát, lúc lấy lại được ý thức mới đột ngột cảm thấy cái nóng hập bỏng rát trên da. Phần da tiếp xúc với nền cát trở nên đỏ ửng, nếu ý thức không sớm trở lại, chỉ nằm nửa tiếng nữa thôi thì e cô sẽ trở thành món thịt nướng trên lò lửa bự tổ chảng này.  Kìm cảm giác đau rát, Dung lừ đừ nhổm người dậy.


Dung nhớ, cô bước đi trước một khoảng đen, một nơi không tồn tại nào đó trong giấc mơ và sau đó giật mình trở lại với thực tại khi nhìn thấy một bức tranh không có họa tiết, một khung tranh trống rỗng không dùng với mục đích trang trí cũng chẳng phải để thường thức, nó treo lơ lửng.


Rồi mới hay, bức tranh đó, không, là rất nhiều bức tranh, được treo dọc hai bên tường của hành lang, trên thực tế, thần thức cô mới là thứ bị treo lơ lửng.. Bấy giờ, xung quanh có rất nhiều người, tất cả có vẻ khả năng kiểm soát hành vi dường như không nằm trong lòng bàn tay họ. Cô nhón chân len lén rời khỏi đó, một cảm giác không mấy dễ chịu dấy lên trong lòng. Chạy dọc hành lang, lợi dụng góc phụ để trốn mấy tên tuần tra lượn phượn quanh đó. Đi đến một căn phòng trống.


Căn phòng méo mó đến kì dị, nhưng không tạo cảm giác cũ kĩ lụp xụp, mà giống hệt có bàn tay cố tình uốn nắn, một xu hướng tạo các góc nhìn lệch lạc có chủ ý.


Có rất nhiều cửa, đành nhắm mắt kéo đại, cô bị hút vào đó. Đi đâu? Chịu thôi, đường nào cũng tới La Mã.


Dung không rõ làm thế nào mình lại có thể xuất hiện trong tòa nhà ấy, nhưng lại càng không rõ làm thế nào cô lại xuất hiện ở nơi nóng hầm hập này.


Xung quanh, ngó qua ngó lại toàn cát, ngó trước ngó sau cũng vẫn là cát. Chẳng có gì ngoài mấy cây xương rồng trổ mã bất thường. Mặt Dung đen lại, tránh vỏ dưa thế mà gặp ngay vỏ dừa.


"Đùa nhau à?? Chán ngắt chán ngơ cái mớ đời! Chuồn khỏi cái tòa nhà biến thái kia chì để chết kiết xác ở đây chăng? Có ai không?! Ma cũng được, không cần người đâu!" Cô gằn giọng, dù trong lòng biết rõ, ở một nơi đặt mông cũng không ngồi được thì chẳng lấy đâu ra người?


Cô ủ rủ lết từng bước nặng trĩu tiến về phía trước, da nhớp nháp một tầng mồ hôi, và đang vã ra không ngớt, thêm lớp đồ trắng dày quấn quanh làm nhiệt độ càng thêm cao. Tất nhiên, lớp quần áo này cản đi rất nhiều sự tiếp xúc trực tiếp giữa da và tia cực tím từ mặt trời, cũng như ngăn cách phần nào với môi trường khô nóng bên ngoài, nhưng nó cũng sớm làm cô muốn ngộp thở.


Bước chân chợt khựng lại, Dung thấy phía đằng xa là cả một hồ nước rộng lớn, nước trong vắt, những hàng dừa xanh cao vút, lá dừa xòe đổ bóng xuống. Cô ngay lập tức có ý nghĩ chạy tới, gấp gáp. Nhưng vừa nhấc chân, một lực mạnh như bao gạo hơn nửa tạ đè lên, lập tức mất thăng bằng ngã nhào về phía trước.


Bịch.


Hai mặt úp xuống, cát tọt lỗ mũi, lưng có cảm giác như bị bẻ gãy, một chú chí mạng, thậm chí không kịp né . Hồ nước và cây xanh cũng bốc hơi, cú đạp này làm cô tỉnh rụi về cả thể xác lẫn tinh thần theo đúng nghĩa đen. Phía trên đỉnh đầu vang lên một giọng khản đặc:


"Đây là đâu nhỉ?" 


"Tr...tránh, tránh ra..."


Nghe thấy tiếng kêu lí nhí, người đàn ông kia mới hay mình đang giẫm trên lưng một người, hơn nữa lại là một cô nhóc. Gã vội vàng nhảy khỏi vị trí, ngồi xổm xuống, hai tay nâng bả vai của người đang nằm bẹp dưới đất dậy. Dung toan ngồi , nhưng đột ngột bị lôi lên, cô ngước nhìn người trước mắt. Đó là một ông chú cỡ trên dưới ba mươi, da rám đen, đầu bóng loáng như sư cụ, chỉ thiếu sáu chấm tròn là có thể đầu quân...vô chùa gõ mõ.


Gã nhướng mi, mặt mày không biết sắc, bình tĩnh hỏi:


"Không sao phải không?"


Dung híp mắt lại, run run gồng mình đứng lên, bên môi giật giật:


"Chết tiệt, ông chú...không thể hỏi câu nào thông minh hơn được sao?"


"Dù sao thì cũng không liên quan. Không biết vô tội."


Ngó khuôn mặt mồ hôi đầm đìa của Dung, gã gật đầu cái rụp, tiện tay cúi xuống xách cái ba lô bự tổ chảng vừa thả từ trên cao, rồi quay ngoắt người bước đi, không để lại ngay cả một chút ít lương tâm con người. Dung thoáng rùng mình, giữa chốn khỉ ho cò gáy này, đào mãi mới ra một miếng người lại gặp ngay một tên khốn nạn.


"Ớ?!" Cô túm gót chân người đàn ông kia, nhoẻn miệng cười, có chút nhọc nhằn, nói "Hà, hại tôi gãy cột sống, còn cỏ tôi lại đây, nếu tôi mà chết tôi sẽ hiển linh về ám chú đó nghe!"


"Hửm? Well. Tốt thôi, tao chỉ sợ người chứ không sợ ma."


"Phát tâm bồ đề đi chứ chú?! Phật dạy, cứu một mạng người hơn xây mười tòa tháp mà!"


"Bảy, không phải mười. Phắn! Tao chỉ theo chân lý sống của tao chứ không tôn thờ vị thần thánh nào hết!" Thằng cha tung vó toan hất cô ra, nhưng căn bản Dung cứ như nam châm hút lấy thanh sắt rỉ là cái chân bốc mùi của gã. Cáu tiết, gã gắt gỏng "Con oắt, sao ông phải cứu mày? Ông đây thích vàng nhưng ngoại trừ 'vàng nổi'. Cho nên mày ở cầu tiêu nhà này thì biến về đó, đừng lù lù một đống dưới chân tao!"


"Đại ca à, cho đi cùng với, bảo xoay ba vòng sủa một tiếng cũng được tuốt!" Dù cô ức chế thật, nhưng trên thực tế thì giờ này không phải lúc sĩ diện hão, phải ăn bám bằng mọi khả năng.


"Tao không mang theo thức ăn cho chó, nhất là chó cảnh."


Tên kia vẫn quyết chí ra đi không thèm ngoảnh lại, cô càng quấn chặt lấy gót chân, từng bước chân gã trở nên nặng trĩu. Rốt cuộc qua vài bước, gã cũng thở dài ngao ngán.


"Được rồi. Đứng lên và đừng làm vướng chân tao là được."


Cô đứng, dậy phủi quần áo, đầu gật lia lịa, cười mỉm chi, còn không quên chào theo kiểu tác phong quân đội.


"Tuân lệnh thưa đại ca!"


"Nơi này chỉ có cát đá với thần chết, không có kẹo ngọt với gấu bông. Nghe?"


Tất nhiên là cô hiểu điều đó. Nhưng trước tiên cô muốn lành lặn, ít nhất là cho đến khi biết được điều gì đang diễn ra với mình. Sự sành sỏi và bình tĩnh hằn sâu trên khuôn mặt của ông chú này, cho cô cảm giác đây không phải lần đầu người này đặt chân đến nơi đây. Mà dù không phải một gã thám hiểm lão luyện thì ông chú là người duy nhất ở đây có thể hi vọng được. Phỏng chừng, khó khăn là không thể tránh khỏi, cô sẽ vừa phải lo cho tính mạng của bản thân, vừa phải cảnh giác trước người đồng hành với mình.  Không hẳn người nào giúp mình cũng đều là người tốt, có thể chỉ đơn giản, họ cần mình trả nợ.


Dung im lặng, trên mặt vẫn giữ nụ cười. Cô lẽo đẽo đi theo, hai người đứng cạnh nhau nhìn như hai chiếc đũa lệch. Một cao lêu nghêu, một thấp tịt. Một quả đầu bóng loáng, một mái tóc đen xù.


"Này, mà chú cũng biết tiếng Việt à?"


"Không, nửa chữ cũng không biết, mà là do nơi này cho phép não bộ con người ta phá bỏ mọi rào cản ngôn ngữ"


"Sao chú biết?"


"Ừm, chà, trộm được vài cuốn sách, nó nói về điều này."


"Oa! Tôi có thể xem với chứ?"


"Không có chuyện đó."


"Kẹo kéo thế! Mà chúng ta đang đi đâu?"


"Hỏi lắm vậy mày?"


"Ầy!~ Thôi hỏi nốt câu cuối, chú tên gì?"


"Paul. Paul Mortimer"


"..."


"Chú không hỏi tôi tên gì sao?"


"Phiền! Thế mày tên gì, được chưa?"


"À, ừm, gọi cháu Kền Kền...là được"


"Ông bà cố nhà mày đặt cái tên đẹp dữ."


"Haha..."

.
.
.
Paul nói với cô về nơi này, trong suốt chặng đường đi.

Đây là một trong bốn vùng đất lớn ở thế giới tưởng chừng như không tồn tại này. Vùng đất lấy tên cũ của lục địa đen - 'Aphrike' theo ngôn ngữ Hy Lạp cổ nghĩa là 'không có lạnh và sự khủng khiếp", nhưng trung tâm vùng đất, chính là lòng chảo nằm khuất sau khu rừng - nơi sự sống con người tồn tại, lại có tên là 'Phrike' mang nghĩa ngược lại, "lạnh là sự khủng khiếp". Dẫu nhiệt độ ở đó cũng không khác nơi này là bao, nhưng cái tên Phrike lại mang hàm ý khác,  tuy nhiên, dầu gì, điều đó vẫn là dấu hỏi chấm. Tuy nói là phiên bản của châu lục đen, song, nơi đây còn kì quái và ảo điệu hơn bao giờ hết.


Địa điểm mà họ đang đặt chân là hoang mạc, vòng tuyến bao rộng, ôm lấy cả khu rừng Xavan khổng lồ. Xung quanh có rất nhiều những chỏm đá cao, những cây họ Cactaceae vĩ đại, chúng có màu đỏ, sừng sững như tòa tháp bám trụ lấy mặt đất. Gã kể nhiều, ấy vậy mà Dung vẫn cảm thấy có gì đó bị giấu ghẹm đi, cô nghĩ không ra là gì.


Cô hỏi Paul, chúng ta làm thế nào có thể rời khỏi đây. Gã cười nói, muốn thoát ra thì phải đi vào, rồi tìm cách để chúng tống khứ mình đi. Cô không khỏi nhíu mày trước ý tưởng điên rồ này, sẽ ra sao nếu bị đuổi đi cơ chứ? Tuy thế, chẳng còn cách nào khác, cô không thể nào thoát ra khỏi đây nếu không có sự hỗ trợ của người bản địa.


Ánh dương dần buông xuống nơi phía tây bầu trời, một lớn, một nhỏ, hai kẻ lữ hành sóng vai nhau lê từng chút một về phía khu rừng Xavan bạt ngàn bao quanh một thung lũng rộng lớn, khép kín. Vừa thoát khỏi nỗi sợ hãi bão cát bất chợt đến, rừng sâu hiện ra trước mắt, nhiệt độ giảm mạnh theo thời gian, Dung cảm thấy rõ áp lực của không khí tăm tối nơi đây. Những tán cây khẳng khiu nối nhau thành tường bao. Cứ như thể, có nhiều ánh mắt sắc sắc bén của thú rừng hằm hè con mồi phóng ra từ phía sau bụi lá rậm rạp.


"Nơi này không có mấy con thú rừng lâu la đâu." Như đoán được suy nghĩ của cô, Paul mở miệng, đánh tan tĩnh mịch bao trùm. Vừa định thở hắt ra, đã lại nghe thấy gã đế thêm một câu "Nhưng mà có quỷ."


"Há? Quỷ?"


"Các vị trưởng lão cai quản Aphrike, họ kí hiệp ước với địa ngục, mượn sức mạnh của quỷ canh giữ nơi này." Paul đưa ngón cái chà chà chóp mũi, mắt vẫn đăm đăm hướng về phía trước.


Dung nghe vậy, tròn mắt nhìn gã:


"Không đùa chứ? Họ không sợ bị giết chết bởi tờ hiệp ước này sao?"


"Tất nhiên, nhưng có lẽ có sự kiểm soát nào đó đủ để họ có thể kiềm giữ những chiếc nanh sắc ngổ ngáo và bất quy tắc kia. Nhưng những con quỷ đó được phong ấn trong cơ thể thú hoang. Chỉ cần chúng ta không đánh thức linh hồn của chúng là được."


"Vậy chúng ta đi qua bằng cách nào?"


"Bản năng chúng đồng hóa thành thú vật hết, cho nên trước tiên nên đi kiếm chỗ nào có bùn đất đã.  Con nhóc, mày biết để làm gì không thế?"


"Làm ơn, ông chú đừng dùng bản mặt ngả ngớn đó hỏi tôi!" Cô bĩu môi "Đến đứa trẻ mười tuổi còn biết dùng bùn và lá cây đánh lừa thính giác và thị giác thú rừng huống chi tôi!"


"Khiếp đảm! Ra vẻ người lớn lắm, mày không phải mới chỉ mười tuổi là quá nhiều còn gì!"


Hai mày Dung chau lại, nãy giờ cứ cảm thấy mọi thứ xung quanh cao vời vợi, hóa ra là do vóc người cô như con nhóc. Trong trí nhớ của mình, rõ ràng cô nhớ mình đã sắp thi đại học đến nơi rồi kia mà? Chỉ là...cô có cảm giác trí nhớ bị khuyết thiếu, giống như quên đi ai đó, không, hẳn là rất nhiều. Thời điểm này, những gì cô nhớ, vỏn vẹn cuộc sống của cô, một mình cô. Vì sao cô sống cũng không rõ, vì sao cô xuất hiện ở đây lại càng không.


Trong lúc Dung đang thất thần, Paul đã tiến lên phía trước, chỉ để lại một lời nhắc nhở:


"Đứng đực ra đấy làm gì, còn không mau đi, tao sẽ không chờ đâu nhóc con, mày phải học cách sống mà không có ba mẹ nâng niu."


Ba mẹ? Cô có không nhỉ? Mọi thứ dường như đang trở nên rối ren.


Cả hai không tìm được nơi nào có bùn nên buộc phải quấn lá cây chi chít quanh người. Paul sai cô đi kiếm vài cây dương xỉ, vỏ cây hay trái gòn khô, nói chung là bất cứ bùi nhùi nào có thể bén lửa, còn nhắc là nhớ đánh dấu đường đi kẻo lạc.

Lối đi trong rừng âm u, cô nghe thấy tiếng chim rừng kêu, bèn theo tiếng kêu đó, vừa lượm bùi nhùi, vừa nom chim gõ mõ quả gì thì hái về ăn, cũng không quên để lại dấu hiệu. Sau một hồi, cũng quay trở lại, thấy Paul đang ôm thân gỗ đặt xuống đất, cô cũng lại gần đấy. Gã nhặt nhạnh một lúc, chọn lấy thân cây tròn, dùng đá đã mài nhọn trong ba lô ra chẻ làm đôi rồi chêm cho hở ra, nhét bùi nhùi vô đó. Sau đó lôi trong túi ra một sợi dây mây móc qua kẽ hở, kéo qua lại hai đầu dây. Khói bốc lên ngày một nhiều, qua một hồi hâu, lửa bốc lên, gã ra hiệu cho cô thổi cho bùng.

Nhưng, lửa vừa nhen nhóm chưa được bao nhiêu thì ngay lập tức tắt ngóm. Nhiệt độ dường như lại hạ xuống thêm.


Grrừừ!


Dung nghe thấy tiếng gầm gừ phía sau bụi cây phía đằng xa, một đôi mắt màu đỏ lóe sáng như tia lase chiếu thẳng về phía hai người.


"Đừng vội động đậy, chuẩn bị tinh thần đã, động đậy ngay giờ chúng sẽ xông lên tấn công. Hiểu chứ?" Paul hạ thấp âm thanh, cánh tay cũng bất động giữa không trung, cả người không mảy may nhúc nhích. Chừng một lúc, tiếng gừ kia ngưng hẳn, chỉ còn âm thanh thở mạnh đầy gai góc, gió thốc vào làm lá cây lay động.


Lợi dụng tiếng động, Paul ra hiệu, hai người đồng thời nhón chân từng chút một. Sau đó gã gật đầu, một lớn một nhỏ hướng ngã rẽ chạy thẳng tắp. Lũ quỷ này đánh hơi so với thú thường còn nhạy bén hơn, chạy so với thú thường còn nhanh hơn. Chẳng mấy chốc, những đôi mắt màu đỏ xếp dài xen lẫn và liền kề ở bụi cây hai bên đường. Hẳn là tiêu đời, không chỉ có một, rất nhiều, những con quỷ thân thú đang bủa vây quanh họ.


Ngay khi nghe thấy một con trong bầy gầm lớn, cả bầy xông về phía họ.


Thời điểm cả đám nhào tới, một luồng ánh sáng lóe lên, cô theo bản năng nheo mắt lại. Một lực lớn hất đám thú cuồng dại ra khoảng xa, cứu cái mạng nhỏ của cô trong đường tơ kẽ tóc. Người đứng bên cạnh Dung không biết từ bao giờ trang phục đã đổi thành màu đen, hai mắt cũng biến màu bạc, toàn thân đen thui trông chẳng khác gì củ thùi lùi.


"Hà, thật sự là không thể đùa với lũ chó hùa. Chậc!"


[Kết...kết giới sư?!]


[Sao lại có kết giới sư ở đây?]


Trong rừng vang vọng tiếng bàn tán xôn xao của lũ quỷ. Dung nhìn sang người bên cạnh, vẻ mặt cô có chút mịt mờ, người này còn cất giấu rất nhiều bí mật. Đây mới là kẻ nên đề cao cảnh giác nhất.


Những con thú hung hãn, sau màn vừa rồi, chúng lũ lượt bỏ về, sát khí nồng nặc cũng dần tản ra.


"Lũ quỷ bị phong ấn rất e ngại kết giới sư. Cho nên chúng ta tạm an toàn. Nhưng có loại còn đánh hơi nhanh hơn đám lâu la này...mấy tù trưởng dưới chướng trưởng làng già. Chúng sẽ nhanh 'đón tiếp' chúng ta thôi. Nói chung là tại mày." Paul rất thong thả cầm mấy lá bùa phe phẩy trước mặt Dung.


"Có thật tại tôi không? Chẳng phải sư cọ đầu đen chạy không được nên phải tiết lộ thân thế sao?" Cô híp mắt lại như lưỡi liềm, liếc xéo về phía gã.

Paul nghe thế cười xòa, vỗ vai Dung.


"Mày thông minh nhất trong số những đứa trẻ tao từng gặp đó! Được, nhận mày đệ tử!"


"Khen thế khác nào sư cọ bảo tôi là thằng chột làm vua xứ mù?! Chúng ta thảnh thơi mà ngồi đây nói nhảm thế này sao?"


"Ờ, đúng rồi, không nói nhảm nữa, ông đây không còn nhiều thời gian, phải tìm cách đi vào trong thành cái đã. Nơi này có rừng lại còn tường lớn bao quanh. Chỉ có duy nhất một cánh cổng hướng về phía mặt trời lặn."


"Ồ, có vẻ hướng cổng giống như cách thiết kế cho lối đi hẹp bắt nguồn từ buồng mai táng của kim tự tháp Ai Cập vậy! Nối thẳng tới khoảng tối - nơi mà họ cho rằng về đêm, tất cả các ngôi sao đều có vẻ xoay quanh nên ở đó có cánh cổng thiên đường."


"Thì đúng là họ quan niệm vầy."


Cô nhún vai, không nói gì. Trời tối đen như mực, không còn cách nào khác, hai người buộc phải lần mò xem gốc cây nào có rêu mốc bám đầy mà biết đường xác định đâu là hướng Bắc.


Search