Mùa vải sai trĩu [Chương 1]

Mùa vải sai trĩu


Tác giả: Nhạt


"Mày sẽ quay lại chứ?"

"Đương nhiên rồi."

Chẳng qua, không biết là bao giờ thôi.

Đó là một buổi xế chiều, tôi và tụi bạn thân, cùng sóng vai nhau. Trong sự cô tịch vô biên, trong màu đỏ của ánh mặt trời muộn, và trong cả màu đỏ của mùa vải giữa hạ.

Sau ngày ấy, tôi rời làng để cho mình cái sổ hộ khẩu người phố. Cuộc sống đơn giản, suy nghĩ cũng trở nên đơn giản. Chỉ nghĩ muốn có cuộc sống dư dả hơn thôi. Nhưng đời đẩy tôi tới đâu, tôi chẳng có quyền chọn. Dù sao thì, với tôi, bấy giờ chỉ có hiện tại và hiện tại. Hi vọng lớn lao nhất chẳng qua là vượt qua khỏi ngọn tre đầu làng.

Từng hứa, sẽ mãi không xa cách nhau, không xa khỏi ngôi làng này, lời hứa vẫn còn đó.

Từng thề, không mở mày mở mặt thì không về, không gặp bất cứ ai, lời thề thì cũng vẫn còn đó.

Cái gì cũng đều vẫn còn đó, chẳng qua ngỡ là mình đã đánh mất, hoặc vô tình phủi đi sự tồn tại của nó. Người trẻ tuổi giống như mặt nước, gió thổi một, sóng gợn mười.
.

.

.

* Thứ nhất: Mọi sự luôn thay đổi, và ai cũng biết.




1. Hồi tôi học lớp hai, thầy tôi qua đời, cũng do bất cẩn mà tượt xuống chân đê. Nhà mà khá giả, không tang to thì tang nhỏ, xôn xao ti trúc. Nhà tôi không như nhà người, ngày thầy mất, cũng chỉ có quả trứng gà là sang, quả trứng mà nửa đời thầy chưa từng ăn, cũng nào dám ăn. Nó đặt trên bát cơm trắng đong đầy, thổi từ gạo mậu dịch mốc meo phân phát theo khẩu phần, với nén nhang đưa hương nhàn nhạt. U tôi buồn thật buồn, hàng xóm sang an ủi đôi lời, bình ổn phần nào, chỉ phần nào thôi.

Ngày tháng dần trôi qua, người ra đi thì cũng ra đi rồi, trên thực tế, cũng chỉ cất vào lòng, trong chiếc ngăn tủ không ai với tới, chẳng thể mang theo hình bóng người đã khuất theo mãi về sau được. Mất đi thầy, u đã nhọc lại mang thêm nhọc.

Được cái bấy giờ ông ngoại sẽ rất khỏe, nếu không phải có chứng nhức nhối cột sống đeo bám, nhưng dầu thế, việc vừa việc nhỏ, ngoại vẫn một tay lo liệu cho đến đầu đến đũa. Hơn, ngoại coi việc ruộng trên ao dưới như thú vui, tôi biết, u biết, ai cũng biết, ngoại sống rất khắc khổ.

Nhà tôi rộng, đất cụ để lại, dẫu trong rỗng ngoài rỗng, vốn chẳng có chi, nhưng rất ấm, tôi từng nghĩ có lẽ do vầy mà lũ bạn cùng làng xôm tụ ở nhà tôi. Tụi nó rất thích chơi tú, cứ lúc nào xong bài thì lại mò qua tụm năm tụm bảy ở hiên nhà tôi chơi tú. Ngay cả ngày mưa dầm, tôi vẫn thấy tụi nó đứa ôm mấy cuốn tập, đứa cầm cây chì, đứa thủ ở túi bộ tú, đứa tay không. Chúng nó xắn ống quần quá gối, đầu đội nón, chân đất lội mưa, vẫn thấy tiếng cười nói rôm rả vọng từ ngoài cổng xa vọng vào. Đều gần lứa với nhau cả, nhưng đứa nào ngồi ngoài cũng lanh chanh chỉ cho đứa ngôi trong chơi, rồi là chê ỏng chê eo, đến khi vô thay chân thì chẳng khác.

Tôi không chơi cùng tụi nó, thời điểm tụi nó sang, mang theo bài tập trên lớp cho tôi, tôi vừa ngồi hí hoáy làm bài, vừa thi thoảng ghé mắt nhìn tụi nó, kể ra thì đấy cũng là một niềm vui, niềm vui nho nhỏ mà tôi cất mãi trong lòng cho tận tới khi rời làng.

Tôi rất thích nhìn cái tí Thơm đứng ngoài gặm ngấu nghiến vỏ bộ tú, sốt ruột chờ đến lân mình. Thơm bé nhất trong hội, nó e dè và chậm, đến nỗi đi đường hay bị bỏ lại, phải hớt hả chạy xoạc móng heo. Tôi thích nhìn thằng Chuột cười ha hả, thậm chí nhảy lên như rồ khi thắng, rồi cái Sương ngồi sau sẽ vung tay quất vài cái lên đỉnh đầu nó. Chị em nó một đứa nóng một đứa lạnh, luôn khiến tôi bật cười. Mỗi lúc tôi không nhịn được cười thành tiếng, cái Sương mặt nó xẹo xọ, quay sang mắng tôi.

Mi cười gì chứ! Mi lo học bài mi đi, để tao dạy em tao.

Tôi thích cả khi thấy thằng Xuyến bận nào vào thua tái mặt nấy, bị bắt quỳ, ăn vạ đập bài xuống đất bảo không thèm chơi nữa. Sau, nó cứ xì xì ngồi ngoài, rủ cũng không thèm ho he vô thay chân, tụi kia bảo, thằng Xuyến nó rái bị quỳ nên ra vẻ.
Và còn rất nhiều.

Tôi thích tất cả những điều đó, những con người đó, đã gắn bó với tôi, coi tôi như một phần của họ.

2. Tôi rất muốn được đi học, không chỉ có tôi, ngoại trừ mấy đứa khá giả chút đỉnh, còn đâu đứa nào đến ngày đi học thì vui cũng đáo để. Với tôi, việc được đi học nó khó khăn biết nhường nào.

Nhà tôi ở quanh đây gần như thuộc diện con đàn cháu đống nhất. Anh cả tôi học tới đến đại học, được chuyển lên phố, ước mơ của anh là trở thành nhà khoa học, nhưng đợt phân bố sinh viên, thế nào lại bị gạt sang sư phạm, trường xa lắc xa lơ. Không muốn thì cũng chẳng dám kháng, vả lại bấy giờ, anh và các sinh viên bị gạt sang, cũng chẳng định hướng học ra làm gì, chỉ cần được học, vậy là đủ.
Môi trường không quen, tình hình học tập trở nên uể oải.

Ở đấy sống khó, nhà lại không thể gửi đồng rau, miếng gạo, tấm chăn hay manh áo lên cho anh, họa có gửi được thì cũng chẳng qua khỏi lệnh kiểm soát. Cuộc sống của anh cứ trực chờ vào mấy con tem cỏn con với cái sổ gạo thất thường, người ta có gì cấp nấy, nhiều hôm đói meo, lắm khi còn xô xát với bạn học vì mảnh chăn mỏng, sai tí sai tị cũng tính phạt theo thóc. Hiếm hoi anh mới có dịp về nhà, mỗi lần trở về lại trông như mất đi miếng thịt, trán mồ hôi nhễ nhại do chen đò, người ngày càng hốc hác, ốm quay ốm quắt. Nhưng vẫn ngồi kể chuyện học chuyện hành trên đấy với u. U tôi xót lắm, bảo hay thôi không học nữa, về làm ruộng, được đâu thì được. Nhưng anh vẫn kiên quyết, nói rằng muốn nhà mình có cuộc sống tốt hơn. U đành ngậm ngùi cùng anh em chúng tôi tiễn anh tới đò, dặn anh ráng giữ gìn sức khỏe. Và rồi thì không lâu sau, nhà hay tin, rất nhiều sinh viên khốn đốn quá mà vượt biên trốn ra nước ngoài, trong đó có anh cả, mẹ tôi đau đáu khôn xiết, ngoài kia người ta huy động lùng, bắt giam được không ít sinh viên, thật may lần này không có anh.

U tôi bảo, chỉ cần anh chúng mày không gặp nguy hiểm là tốt lắm rồi.

Trông u thế, nhưng chỉ đêm đến, vẻ rầu rĩ mới hằn rõ lên quầng thâm dưới hõm mắt u. Khi tôi choàng tỉnh từ cơn mơ về một nơi xa xăm, nơi con thuyền ước mơ không tìm được bến đỗ, chênh vênh trên những con sóng đỏ của buổi chiều tàn. Thì mí mắt u tôi dù đã nặng trĩu nhưng vẫn không thể khép lại mà chìm vào giấc ngủ. U ngồi bên ánh đèn dầu chập chờn trước gió, cạnh khung cửa, bóng u trên tưởng lúc nhòa lúc sậm, tôi ghi hình ảnh đó vào trong tâm trí, tận sâu. Nhưng phải nhiều năm qua đi, tôi mới hiểu được, hình ảnh đó đó là biểu hiện của sự cô đơn tột cùng.

Nhà tôi anh cả đi rồi, có anh ba bấy giờ là học cao nhất, sách bao giờ cũng được nhiều nhất, còn được thửa đôi dép cao su để đi học, nó làm từ lốp xe cũ. Tôi rất thích nó, với một đứa quen giẫm chân trên bùn đất, thì đương nhiên, đôi dép là cả một niềm ước ao. Hồi mới thửa được, tôi còn nài nỉ anh ba cho đi thử, anh ba giằng co mãi mới gật đầu bảo tôi cẩn thận không đứt. Tôi mừng quýnh, vội đeo vô và chạy vòng quanh, chân tôi chỉ nhỏ bằng một nửa dép, chạy nghe lạch bà lạch bạch, ngoại cười ngoại nói tếu trông tôi như con vịt giãy chết.

Anh hai tôi lưng chừng lớp chín thì bỏ bê, do học hành không vô đầu nên nản quá, chểnh mảng, rời quê đi xa làm công, anh làm dép cao su ở xưởng nhỏ, làm kham khổ nhưng lương chẳng có bao nhiêu, may thì được phát tem, không thì người ta trả lương bằng dép, anh cũng phải cắn răng mà mang về, nhà hết người đi thì lại đưa mấy đứa nhóc hay sang chơi, nhìn đôi dép, tôi và tụi nó mừng húm. Duy chỉ có u, anh hai và chị tư là buồn thỉu buồn thiu.

Chị tư vì là con gái, nên chỉ học hết lớp bảy là xếp bút nghiên ở nhà trông thằng út. Chị sớm đã trưởng thành hơn vẻ ngoài rất nhiều, chăm chỉ lo toan, chắn vén, đỡ đần mẹ và ngoại không ít sự vụ. Nom chị mà tôi thấy tủi cho chị, cũng tủi cho tôi. Bởi lẽ, dù gì thì sớm hay muộn tôi cũng sẽ giống như thế.

Thời điểm đó, cả thầy cô cũng ăn lương theo cái sổ gạo thất thường đấy là chính, tháng được tháng mất, nên cũng khó mà có được thầy cô ngậm khổ ngậm nhọc mà thành tâm dạy học.

Nhà tôi nghèo hơn hết so với những đứa trẻ cùng lớp khác. Vì không đủ tiền đóng học, mà cô lại không cho khất, nên dăm bữa nửa tháng tôi lại phải nghỉ. Chúng bạn thương tôi nhiều, chung tay mỗi đứa hai trăm con, gom góp mang xin cô cho tôi đi học. Tôi lại chẳng cho gì được chúng nó, ngoài tiếng cám ơn chân thành. Tôi tự nhủ với lòng, sau này phải kiếm được nhiều hai trăm để trả cho họ.

Cho đến sau khi lớn lên rồi, khi mà đồng hai trăm đó nằm rải rác trên đường có lẽ cũng chẳng ai thèm nhặt, tôi chợt nhớ ra ước muốn thoáng qua ngày bé tí, nhưng thứ mà tôi nợ những người bạn không phải một món tiền, mà là một ân tình.

Giá trị của đồng tiền thì không thay đổi, nhưng giá trị của cuộc đời thì luôn đổi thay.

Tôi cất tất cả những đồng hai trăm con tương ứng với số học sinh của lớp, cất gọn trong một chiếc hòm, giống như cất cả những tiếng cười giòn giã dưới bầu trời thu ngày ấy, cất cái nắm tay thân thiết; cất hình ảnh cô nhóc hôm xưa đứng ngẩn ngơ mà khóc giữa đám đông, trong căn phòng học gần như đổ nát.

Đâu phải cái gì lấy đi rồi là sẽ mất? Nhưng cũng đâu phải cái gì lấy đi rồi vẫn sẽ trả lại được? Có khi không mất, nhưng cũng chẳng thể trả lại.

0 Responses

Search